THÁI BÌNH – Đình An Cố

(Cinet - DL) Đình An Cố thuộc thôn An Cố, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
1. Di tích/Di sản: Đình An Cố
THÁI BÌNH – Đình An Cố - ảnh 1
Đình An Cố (nguồn internet)
2. Thời gian: Ngôi đình An Cố ngày nay được dựng đầu thời Mạc. Đình được khởi dựng năm 127, khánh thành năm 1528 vào thời Mạc Đăng Dung. Đây là thời kỳ mâu thuẫn chính quyền phong kiến Lê – Trịnh, Lê – Mạc, và tranh chấp quyền lực lên đến tột đỉnh
3. Năm công nhận: Năm 1962, Bộ Văn hóa Thông tin đã ký ban hành Quyết định xếp hạng Đình An Cố là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia về tiêu chí kiến trúc nghệ thuật
4. Địa hình/Vị trí: Đình An Cố thuộc thôn An Cố, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng. Toàn tỉnh có diện tích 1.546,5  km², địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnhthành phốHải DươngHưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định.
Thái Bình có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, với đường bờ biển dài trên 50km và là một vùng biển rộng.
Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.
5. Thổ nhưỡng: Do đặc điểm sát biển nên các sông ở Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. 
6. Khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô lạnh. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm Thái Bình đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển.
7. Dân cư: Theo thống kê từ cuộc điều tra dân số năm 2012, Thái Bình có dân số là 1.868.800 người, mật độ dân số trung bình 1.209 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính, mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình đạt 3.961 người/ km² và thấp nhất là huyện Tiền Hải đạt 945 người/ km². Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi. Với đặc điểm một tỉnh thuần nông, so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh duy nhất có tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung. Những năm qua, tỷ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm dần.
Thái Bình được coi là một trong những yếu tố cấu thành nên cái nôi của nền văn minh sông Hồng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Kho di sản văn hóa của văn minh sông Hồng cũng hết sức phong phú và độc đáo, với hàng nghìn lễ hội dân gian, hệ thống đình đền chùa đồ sộ, các làn điệu dân ca ngọt ngào, câu chèo tinh tế dung dị. Thái Bình được coi là vùng quê có đời sống tinh thần phong phú “sáng rối, tối chèo” nhiều trò chơi, trò diễn xướng dân gian nổi danh một thời nay vẫn được bảo lưu và phát huy trở thành một trong những nét độc đáo riêng có của vùng đất Thái Bình.
8. Tóm tắt nội dung:
Đình An Cố là nơi thờ Đức Nam Hải Đại Vương Thượng Đẳng Thần, theo tín ngưỡng dân gian, là một vị Thủy Thần, nơi vùng sông biển thường thờ Nam Hải Đại Vương để giúp dân an bình, thịnh vượng trong cuộc sống trị thủy và săn bắt nơi biển cả. Ngôi đình được dựng trên vùng đất cao giữa làng, không gian thoáng đãng, trước mặt là sông, xung quanh là làng xóm dân cư sinh sống. Đây là một trong ba ngôi đình cổ kính nhất các huyện ven biển duyên hải Bắc bộ. Từ những ấn tượng đầu tiên ta đã cảm nhận Đình An cố có tầm vóc của một đại điện. Thời kỳ vàng son, và theo dấu ấn lịch sử, đình An Cố xứng đáng là thiết chế văn hóa tiểu triều đình, là kiệt tác nghệ thuật kiến trúc, nơi ghi chép đời sống văn hóa dân gian. Mỗi bức chạm khắc đều phản ánh một góc đời sống xã hội, rộng thì khắc họa chuyện cung đình, hẹp thì miêu tả lịch sử của làng xóm, và đề tài nào cũng đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, có tầm khái quát rộng lớn. Mỗi linh vật là một tác phẩm, mỗi mảng chạm là một tác phẩm, công năng kiến trúc khỏe, ước lệ nghệ thuật cao. Và cả ngôi đình là một kiệt tác lớn đạt đỉnh cao của giá trị văn hóa nghệ thuật, thành chuẩn mực cho đời sau.
THÁI BÌNH – Đình An Cố - ảnh 2
THÁI BÌNH – Đình An Cố - ảnh 3
THÁI BÌNH – Đình An Cố - ảnh 4
Đình An Cố (nguồn internet)

Rồng và lửa là đề tài phổ biến được thể hiện trong điêu khắc hai triều Lê, Mạc. Đây là thời kỳ mâu thuẫn chính quyền phong kiến Lê – Trịnh, Lê – Mạc, và những tranh chấp quyền lực này đã lên đến tột đỉnh. Đình có 46 cột gỗ lim mới, số còn lại là các cột cũ tồn tại gần 500 năm. Nội thất kiểu chồng rường, hệ thống rường, xà kết thành mảng, tổng cộng trong đình có 56 mảng chạm.
Đình An Cố là một ngôi đình 10 gian, nhưng về quy mô mực thước là một ngôi đình lớn nhất trong các ngôi đình ở Thái Bình. Tòa tiền tế 7 gian nhưng có chiều dài 25,4m, lòng rộng 10m, gian chính tâm dài tới 3,8 m. Diện tích thềm tòa bái đường tính cả hiên rộng tới 270m2. Thềm dài 18m, rộng 12m, lát đá phiến bào ngọt. Tòa hậu cung lòng rộng 10m gồm 3 gian. Vì cửa cũng được cham khắc công phu không thua gì tòa bái đình. Vẫn đề tài tứ linh nhưng khi quan sát thật kỹ có phần tinh xảo hơn. Cửa vào cung cấm chia làm 3 khu: Khu trung tâm, và tả, hữu. Nghệ thuật điêu khắc vừa đạt sự tinh mỹ, vừa đạt tính hoành tráng, chi tiết từng nếp vây, chiếc vẩy tỉ mỉ đến từng sợi râu, sợi bờm. Có những mảng lớn diện tích từ 3 – 4m2 mà từ long cuốn thủy đến phượng hàm thủ, liêm áp, liên quy, nghê múa, nghê chầu… lớp xa, lớp gần, chạm bong, chạm chìm, chạm lồng, lớp nào cũng tỉ mỉ đến từng chi tiết.
Tòa hậu cung 3 gian rộng lớn. Hệ thống hai tầng cửa võng là những kiệt tác độc nhất vô nhị. Với không gian chỉ dài 3,6m, cao 1m mà có gần 40 tác phẩm chạm tứ linh. Điều đặc biệt là các bức chạm khắc ở đình An Cố khiến hậu thế nhận thấy dường như các nghệ nhân muốn gửi gắm các sự kiện lịch sử vào những tác phẩm điêu khắc đó. Nếu như 500 con rồng (rồng tượng trưng cho bậc Đế vương) ngự tọa trên các vì kiến trúc ở đây, thì cũng có trên 500 con hổ giao tranh, chỗ thì rồng hỉ hả cùng bầy hổ, chỗ thì rồng oằn oại dùng hết sức bình sinh đè bẹp bầy hổ… lại có mảng là cả bầy chuột đồng chạy đuổi nhau trên đầu rồng! Lại có cảnh bầy khỉ chặn rồng, con cưỡi, con bóp miệng rồng móc ngọc… Đó là những diễn biến trong thời kỳ lịch sử phức tạp với những giao tranh giữa các thế lực trong triều đại phong kiến lúc bấy giờ, như những câu chuyện kể trên gỗ, đá tưởng như vô tri mà sinh động.
Nhưng dù là câu chuyện gì thì ngôi đình quả thật là khối kiến trúc đồ sộ, tiêu biểu cho nền kiến trúc và mỹ thuật của thời kỳ đi vào thoái trào của nhà Hậu Lê với những giá trị tuyệt mỹ, riêng có trong kho tàng kiến trúc Việt Nam.
Linh Thùy (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo

http://thaithuy.thaibinh.gov.vn/News/Lists/DiTichLichSuVanHoa/View_Detail.aspx?ItemID=3
http://mactrieu.vn/index.php?option=com_content&id=1365%3Ainh-an-c&Itemid=122
vnexpress.net/dinh-an-co/tag-483478-1.html
http://vietlandmarks.com/module/groups/action/view/id/1053
http://timcoinguon.blogspot.com/2013/06/inh-co-theo-tu-ien-thai-binh.html
http://dch.gov.vn/Upload/files/Tap%20chi%20DSVH/So%2012/1226_Cong%20tac%20quan%20ly%20di%20tich%20lich%20su%20van%20hoa%20o%20Thai%20Binh.pdf

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác