VĨNH LONG - Đình Bình Phụng

(Cinet-DL) - Trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, như nhiều địa phương khác, tỉnh Vĩnh Long có khá nhiều đình, chùa ghi dấu những sự kiện lịch sử quan trọng, gắn liền với truyền thống đấu kiên cường của người dân địa phương. Riêng ở huyện Vũng Liêm có một ngôi đình gắn liền với sự kiện Nam kỳ khởi nghĩa và cách mạng Tháng Tám, đó là Đình Bình Phụng ở xã Trung Hiệp.
1. Tên di sản/Di tích: Đình Bình Phụng.
2. Thời gian: Đình Bình Phụng thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Đình được tạo lập vào năm 1920, bằng tre lá đơn sơ thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và những bậc tiền nhân có công với làng xã. Bên cạnh đó dân làng còn thờ ông Tà theo tín ngưỡng dân gian Khmer.
3. Năm công nhận: Ngày 17-04-2003 UBNN tỉnh công nhận Đình Bình Phụng là di tích lịch sử văn hoá theo quyết định số 970/QĐ.UBT.
4. Vị trí/Địa hình: Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam. Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về hướng Bắc theo quốc lộ 1, cáchthành phố Cần Thơ 33 km về hướng Nam theo đường quốc lộ 1. Tỉnh nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa, dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần về phía BắcĐông Bắc và Nam Đông Nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kênh rạch.
5. Thổ nhưỡng: Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, có cao trình khá thấp so với mực nước biển, Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của Tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm Tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiềnsông Hậu,sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn
Vĩnh Long có cấu trúc địa chất tương đồng với khu vực, chủ yếu là trầm tích biển của kỉ Đệ tứ trong đại Tân sinh. Vĩnh Long tuy có diện tích đất phèn lớn, tầng sinh phèn ở rất sâu, tỉ lệ phèn ít, song đất có chất lượng cao, màu mỡ vào bậc nhất so với các tỉnh trong vùng. Đặc biệt tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu (lượng phù sa trung bình là 374g/m3 nước sông vào mùa lũ), đất tốt, độ phì nhiêu cao, trồng được hai vụ lúa trở lên, cho năng suất cao, sinh khối lớn lại thuận lợi về giao thông kể cả thuỷ và bộ. Vĩnh Long còn có lượng cát sông và đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào. Cát sông với trữ lượng khoảng 100 - 150 triệu m3, được sử dụng chủ yếu cho san lấp và đất sét với trữ lượng khoảng 200 triệu m3, là nguyên liệu sản xuất gạch và làm gốm
Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng. Tỉnh chỉ có nguồn cát và đất sét làm vật liệuxây dựng, đây là nguồn thu có ưu thế lớn nhất của tỉnh Vĩnh Long so với các tỉnh trong vùng về giao lưu kinh tế và phát triển thương mạidu lịch. Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa 2 con sông lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, nên có nguồn nước ngọt quanh năm, đó là tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng. Vĩnh Long có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, hình thành hệ thống phân phối nước tự nhiên khá hoàn chỉnh, cùng với lượng mưa trung bình năm lớn đã tạo điều kiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.
6. Khí hậu: Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.400 – 1.450 mm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, chiếm 85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ tương đối cao, ổn định, nhiệt độ trung bình là 27oC, biên độ nhiệt trung bình năm nhỏ, độ ẩm trung bình 79,8%, số giờ nắng trung bình năm lên tới 2.400 giờ.
7. Dân cư: Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Vĩnh Long đạt gần 1.028.600 người (xếp thứ 10 trong tổng số 13 tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long), mật độ dân số đạt 687 người/km²Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 159.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 869.400 người. Dân số nam đạt 833.700 người, trong khi đó nữ đạt 521.900 người. Nhóm tuổi từ 15 đến 59 tuổi chiếm 69,83 % dân số Vĩnh Long, hai nhóm tuổi còn lại là từ 0 đến 14 tuổi và trên 60 tuổi lần lượt chiếm 9,09 % và 21,08 % dân số toàn tỉnh. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 5,3 ‰, tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên là 0,87 %.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Vĩnh Long có 20 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 997.792 người, người khmer có 21.820 người,người hoa có 4.987 người, còn lại là những dân tộc khác như Tày, Thái, Chăm, Mường...
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Vĩnh Long có 11 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Phật giáo có 155.580 người, Phật Giáo Hòa Hảo có 34.921 người, Công giáo có 34.005 người, đạo Cao Đài có 22.872 người, các tôn giáo khác như Tinh Lành có 6.641 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.842 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 327 người, Hồi giáo 56 người, Minh Sư Đạo có 22 người, Bửu sơn kỳ hương có 16 người, Hải Thần Thiên Giáo có 3 người, còn lại là đạo Bà la môn có 1 người.
8. Tóm tắt nội dung: - Giá Trị nổi bật :
Nơi giáo dục truyền thống yêu nước

Trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, như nhiều địa phương khác, tỉnh Vĩnh Long có khá nhiều đình, chùa ghi dấu những sự kiện lịch sử quan trọng, gắn liền với truyền thống đấu kiên cường của người dân địa phương. Riêng ở huyện Vũng Liêm có một ngôi đình gắn liền với sự kiện Nam kỳ khởi nghĩa và cách mạng Tháng Tám, đó là Đình Bình Phụng ở xã Trung Hiệp.
Tọa lạc bên tuyến đường vào xã Trung Hiệp, cách quốc lộ 53 khoảng 1km, đình Bình Phụng chính là niềm tự hào của người dân địa phương và đây cũng là một trong những di tích ghi lại những truyền thống đấu tranh bất khuất của ông cha  ta.
Đình Bình Phụng được nhân dân nơi đây tạo lập từ năm 1920 bằng tre lá đơn sơ. Đình thờ thần Thành hoàng Bổn cảnh và những bậc tiền nhân có công với làng xã. Năm 1925, đình được kiến trúc lại theo kiểu mẫu của một ngôi đình Nam bộ truyền thống với kiến trúc chữ tam gồm võ quy, võ ca và chánh điện. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đình Bình Phụng là một trong những địa điểm hội họp và tập kết của lực lượng nghĩa quân. Cuối năm 1940, thực dân Pháp đàn áp phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa, lục soát ngôi đình và bắt đi hơn 20 nghĩa quân.
Thời điểm cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng sử dụng đình Bình Phụng làm trụ sở Ủy ban hành chính xã, là nơi hội họp của các đoàn thể như phụ nữ, thanh niên tiền phong của xã Trung Hiệp. Năm 1946, thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn đình Bình Phụng và mang cây gỗ về cất trại lính ở Mai Phốp. Đến năm 1955, đình được nhân dân dựng tạm cách nền đình cũ khoảng 400m về hướng cầu Sẹo – nay là điểm trường tiểu học xã Trung Hiệp. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1994, đình Bình Phụng được chính quyền và nhân dân dời trở về vị trí ban đầu.
Ngày 21/4/2002, đình Bình Phụng được khởi công xây dựng lại hoàn toàn mới trên diện tích hơn 3.000 mgồm: chánh điện, nhà khói và sân khấu. Đình có khoảng sân rộng với nhiều hoa kiểng, cây xanh đủ sức chứa đông người tập trung về đây vào các dịp lễ hội. Kỷ niệm 62 năm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, năm 2002, cựu nghĩa quân Phan Văn Hòa (tức cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) cùng chính quyền và nhân dân địa phương lập trong khuôn viên đình Bia tưởng niệm khởi nghĩa Nam Kỳ bằng đá hoa cương nguyên khối màu đỏ để ghi tạc công ơn của nhân dân và nghĩa sĩ Trung Hiệp, Trung Hiếu trong công cuộc chống giặc ngoại xâm.
Như các ngôi đình khác ở Nam bộ, hàng năm, đình Bình Phụng cũng có 2 lễ cúng chính là lễ hạ điền vào ngày 17/3 âm lịch và lễ thượng điền vào ngày 17/10 âm lịch. Đình còn là địa điểm tổ chức các hoạt động lễ hội của địa phương nhân các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm các sự kiện quan trọng của đất nước. Đây cũng chính là địa chỉ đỏ và là điểm đến lý tưởng cho những chuyến về nguồn, giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.
VĨNH LONG - Đình Bình Phụng - ảnh 1
VĨNH LONG - Đình Bình Phụng - ảnh 2
Một số ảnh Đình Bình Phụng (nguồn: sưu tầm internet)

Nhân Hậu (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo: 
http://www.baomoi.com; https://vi.wikipedia.org

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác