Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020".

(Cinet) - Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới và Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020". Đây cũng chính là một đề án lớn, mang tính chiến lược và có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự nghiệp phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn của nước nhà.
Mục đích, ý nghĩa của Đề án
Tại phiên họp Đại hội đồng lần thứ 25 ngày 15 tháng 11 năm 1989 tại Paris (Pháp), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã khuyến nghị các quốc gia thành viên phải quan tâm, chú trọng đến các di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Năm 1993, trong phiên họp lần thứ 142 của Ban chấp hành, UNESCO lại đưa ra khuyến nghị về việc thiết lập hệ thống Báu vật nhân văn sống. Năm 2003, tại phiên họp Đại hội đồng lần thứ 32 từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 17 tháng 10 năm 2003, UNESCO đã thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Nhà nước Việt Nam đã ký văn bản đồng ý tham gia Công ước này năm 2007. Theo nội dung cửa Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện ở những hình thức sau: Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống.
Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020
Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020
Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc vả những tri thức dân gian khác.
Là một hình thức quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật biểu diễn truyền thống là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trì lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thể hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Giống như các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể, sự mai một, thậm chí hủy hoại của nghệ thuật biểu diễn truyền thống dễ xảy ra, bởi nghệ thuật biểu diễn truyền thống được lưu giữ trong ký ức của con người nên có số phận lịch sử mong manh.
Với đặc thù đó, nghệ thuật trình diễn truyền thống luôn được Đảng, Nhà nước chú trọng quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII xác định : "Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những gia tư văn hóa truyền thông, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể...", "Đầu tư và tổ chức điều tra sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số...", tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lý văn hóa truyền thống của người Việt và các dân tộc thiểu số... Trọng đãi những nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống". Nối tiếp văn kiện này, văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần IX, X đều nhấn mạnh việc coi trọng công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: "Coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc" và "Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc.
Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại, nhằm truyền bá sân rộng các giá trị văn hóa trong công chung đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài. Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số".
Thực tiễn công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang đặt ra nhiều vấn đề cần khẩn trương giải quyết như mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy; vấn đề khai thác tiềm năng kinh tế của nghệ thuật biểu diễn truyền thống để phục vụ phát triển du lịch bền vững, vấn đề ghi chép, lưu trữ chân dưng các nghệ nhân cao tuổi...
Công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống, vì thế có ý nghĩa cấp thiết trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
*Đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn nghệ thuật truyền thống có tài, tâm huyết với nghề được cải thiện đáng kể, với khoảng 3.000 nghệ sĩ chuyên nghiệp. Các nghệ sĩ đã nỗ lực cố gắng, khắc phục khó khăn của cuộc sống để gìn giữ, bảo tồn và tiếp tục phát huy vốn di sản nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Đến tháng 6/2011, đã có 191 nghệ sĩ được được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, 1580 nghệ sĩ được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
Các đơn vị nghệ thuật truyền thống, nhất là sân khấu truyền thống chuyên nghiệp đã xây dựng được một hệ thống kịch mục đa dạng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của đông đảo công chúng. Trong cơ chế thị trường, nhiều đơn vị nghệ thuật đã khắc phục khó khăn, trụ vững đê tồn tại. Các đơn vị nghệ thuật truyền thống như Tuồng, Chèo, Cải lương, Múa rối, Ca Múa Nhạc dân tộc đã có những tác phẩm tốt, những chương trình, vở diễn hấp dẫn. Nhiều đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động để đến với khán giả, đặc biệt là khán giả vùng sâu, vùng xa, số lượng buổi diễn ngày càng tăng.
Công tác quy hoạch các đoàn nghệ thuật biểu diễn nghệ thuật truyền thống theo Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg ngày 28/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã được thực hiện, bước đầu có hiệu quá trong việc bảo tồn và phát huy biểu diễn nghệ thuật truyền thống. Các đơn vị nghệ thuật hoạt động theo phương thức xã hội hoá đang phát triển ổn định, nâng cao chất lượng biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
Công việc sưu tầm, sưu tập, giới thiệu một số tác phẩm Tuồng, Chèo truyền thống đã đạt được nhiều kết quả; đã dàn đựng lại những tác phẩm tiêu biểu thuộc loại hình kịch hát truyền thống như: Quan âm Thị Kính, Tấm Cám, Lưu Bình – Dương Lễ, Trương Viên, Trinh Nguyên, Từ Thức (Chèo); Sơn Hậu, Triệu Dính Long, Nghêu sò ốc hến (Tuồng); Long - Ly - Quy Phượng, chú Tễu ra trò (Múa rối nước) . . Hoạt động giao lưu nghệ thuật với nước ngoài được phát triển, số các đoàn, nhóm của nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam ra nước ngoài ngày càng tăng, với nhiều phương thức khác nhau: giao lưu nghệ thuật qua hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và các nước; tổ chức phi Chính phủ (hiệp hội, công ty, thanh niên, sinh viên...); các đoàn nghệ thuật tự tìm đối tác để lưu diễn ở nước ngoài...
Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020
Ghi hình vai diễn của nghệ sĩ Tuấn Kha (trái) với trích đoạn Phù thủy sợ ma trong vở chèo cổ Kim Nham

Chất lượng công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn nghệ thuật truyền thống tại các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật Trưng ương và địa phương được chú trọng; số học sinh, sinh viên, học viên tốt nghiệp được phát huy trong thực tiễn.
Dự án Sân khấu học đường do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì thực hiện được triển khai trên 29 tỉnh thành trong cả nước, tại 83 trường trung học cơ sở, trong đó riêng nghệ thuật Tuồng đã có hơn 500 học sinh, sinh viên, học viên trục tiếp học biểu diễn Tuồng trong vòng 9 năm.
*Đối với nghệ thuật biểu diễn  truyền thống không chuyên nghiệp
Công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống cộng đồng những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. Các chương trình liên hoan dân ca các miền do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức định kỳ hàng năm đã có hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Với ý thúc và trách nhiệm bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống, tại một số địa phương đã duy trì và thành lập thêm những nhóm, CLB biểu diễn và truyền dạy nghệ thuật truyền thống hoạt động tích cực và hiệu quả như các câu lạc bộ Quan họ Bắc Ninh ở các làng, xã thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang các câu lạc bộ Ca trù ở thành phố Hà Nội, các nhóm nghệ nhân trình diễn cồng chiêng ở các tỉnh Tây Nguyên, các vùng dân tộc miền núi phía Bắc, các nhóm đờn ca tài tử ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long...
Một số đơn vị nghệ thuật ngoài công lập hoạt động hoàn toàn tự túc về kinh phí nhưng khá hiệu quả như Nhà hát Sân khấu thể nghiệm của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, phường Rối Tế Tiêu, phường Rối Nguyên Xá, phường Rối Đào Thục…
Trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đã có một số dự án sưu tầm, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều loại hình tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Từ năm 1997 đến năm 2010, 60 dự án sưu tầm, bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Viện âm nhạc Học viện âm nhạc quốc gia, 170 dự án sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã được 63 tỉnh thành thực hiện.
Thông qua các dự án, ý thức tự hào, tinh thần trách nhiệm với nghệ thuật biểu diễn truyền thống của cộng đồng đã được nâng cao. Năm 2008, Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam thực hiện dự án Công bố phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc ở Việt Nam trong thời gian từ 2009-2012, trong đó có các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Những năm qua, công tác bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng đã được quan tâm, chú trọng. Chính phủ đã cho phép ngành văn hóa, thể thao và du lịnh lập các hồ sơ quốc gia đề cử các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam để được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù. Sự vinh danh của UNESCO đã ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Từ hiệu quả thực tế, UNESCO đã hỗ trợ cho 02 dự án bảo tồn Nhã nhạc Cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Các di sản nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã được sưu tầm, bảo tồn, lưu giữ tại Ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Viện âm nhạc Học viện âm nhạc quốc gia bằng các phương tiện khoa học-công nghệ tiên tiến.
* Những hạn chế
Đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp
Nhận thức về giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng như trách nhiệm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống chưa được đồng đều trong xã hội, trong đó có một bộ phận cán bộ quản lý.
Công tác quy hoạch các đơn vị nghệ thuật nói chung, các đoàn nghệ thuật truyền thống nói riêng triển khai chậm, hiệu quả chưa cao, vẫn còn hiện tượng chồng chéo về tổ chức giữa các đoàn nghệ thuật của các địa phương, không ít địa phương do chưa tìm ra hướng đi, đã tiến hành sáp nhập các đơn vị nghệ thuật trên địa bàn để tinh giản bộ máy và đầu mối quản lý, hoạt động lúng túng, kém hiệu quả. Chủ trương xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống hiệu quả chưa cao.
Đội ngũ tác giả sáng tác kịch bản Tuồng, Chèo và Cải lương từ xưa vốn đã ít ỏi, hiếm hoi, nay lại càng hiếm vì phần lớn đã qua đời hoặc tuổi cao, đội ngũ đạo diễn, đội ngũ diễn viên gặp khó khăn tương tự, đội ngũ nghiên cứu, lý luận phê bình nghệ thuật biểu diễn truyền thống thưa vắng, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu. Các nghệ sĩ, nghệ nhân tài năng hiện còn sống tuổi đã cao (trên 70-80 tuổi).
Hầu hết các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp đang bế tắc về phương pháp bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, việc bảo tồn chủ yếu thực hiện bằng các hình thức: lưu giữ bằng băng đĩa, tác phẩm tại đơn vị, ít được quảng bá, chưa phát huy được chức năng giáo dục nhận thức của người dân về bản sắc văn hóa dân tộc, thông qua nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang có nhiều bất cập, bất hợp lý. Nội dung giáo trình giảng dạy chưa được bổ sung tư liệu khai thác từ các nghệ nhân, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống. Do đặc thù đòi hỏi cao về năng khiếu, nên số lượng người dự thi vào học các ngành nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong các trường văn hóa nghệ thuật không nhiều.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đối với các đơn vị tổ chức biểu diễn nghệ thuật, về chi phí quản lý hành chính, tiền lương, xây dựng tiết mục, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn, quy định chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm v.v... nhưng một số chính sách đã không còn phù hợp với thực tế, không kịp thời động viên, khích lệ các nghệ sĩ, nghệ nhân yên tâm cống hiến do cuộc sống khó khăn.
Các đơn vị nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp đều có trụ sở và đất do Nhà nước cấp, tuy nhiên chỉ tập trung ở một số đơn vị đóng tại thành phố lớn, còn hơn 80% đơn vị chỉ có nơi làm việc nơi luyện tập ở mức khiêm tốn và không có nhà hát riêng để biểu diễn. Phần lớn các nhà hát, điểm diễn chưa được đầu tư tương xứng, trang thiết bị không đồng bộ, chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của khán giả.
Trong công chúng, nhất là lớp trẻ, sự say mê, ưa thích nghệ thuật biểu diễn truyền thống có chiều hướng giảm sút.
Kinh phí hoạt động nghệ thuật được tăng lên hàng năm song vẫn còn quá eo hẹp so với yêu cầu và bị đàn trải. Ngân sách dành cho sáng tác và biểu diễn của các đơn vị nghệ thuật truyền thống không nhiều, chỉ đủ cho các khoản chi phí thường xuyên, mà không có kinh phí cho hoạt động bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Hoạt động giao lưu nghệ thuật trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống được chú trọng, nhưng chưa có chiến lược và sự đầu tư thích đáng cho việc biểu diễn nghệ thuật truyền thống ở nước ngoài, nên hiệu quả của việc giới thiệu nghệ thuật biểu diễn truyền thống với bạn bè quốc tế chưa cao.
*Đối với nghệ thuật biểu diễn truyền thống không chuyên nghiệp
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống không chuyên ở các địa phương nhiều năm qua chủ yếu là tự phát đế đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, các cơ quan quản lý chưa có chiến lược để phát huy tiềm năng và khai thác hiệu quả...
Lực lượng nghệ nhân chưa được trang bị một cách đầy đủ kiến thức lý luận về bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống nên hiệu quả của công tác này chưa cao, thậm chí còn dẫn tới tình trạng làm biến dạng các tác phẩm.
Công tác xã hội hóa việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong cộng đồng hiệu quả chưa cao. Các thành phần kinh tế chưa thực sự quan tâm đầu tư cho công việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng.
Đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống mời chỉ dừng ở việc sưu tầm, lưu trữ với mức kinh phí còn ít, chưa có kinh phí cho quảng bá, phát huy giá trị của các tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
*Nguyên nhân của những hạn chế
Nhận thức về vai trò, giá trị to lớn của nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong xã hội, nhất là giới trẻ chưa sâu sắc, khiến công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống còn nhiều hạn chế.
Chưa có chiến lược bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống xứng đáng với giá trị to lớn của các loại hình, tác phẩm.
Quy hoạch nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020 triển khai thực hiện chậm; Chưa có chính sách thích hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia xã hội hoá công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống chưa được đánh giá, phân tích, nghiên cứu, phê bình một cách sâu sắc nên việc bảo tồn, phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng và các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp còn gặp nhiều lúng túng, trở ngại, chưa có giải pháp hiệu quả.
Những hạn chế nêu trên đặt ra nhiệm vụ to lớn cho cơ quan quản lý mà trực tiếp là Bộ VHTTDL cần nhanh chóng xây dựng quy hoạch mang tính chiến lược để phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong thời gian tới. Chính vì thế, Bộ VHTTDL đã xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020.
Quan điểm, bố cục và những nội dung chính của Đề án
*Quan điểm:
1. Đề án nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng, các nhà quản lý về giá trị, vai trò của nghệ thuật biểu diễn truyền thống, từ đó xác định trách nhiệm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống để nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống thực sự là tinh hoa văn hóa dân tộc.
2. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống nhằm giữ gìn và phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam phong phú về loại hình, giàu có về tác phẩm, đa dạng về phong cách, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Đổi mới công tác đào tạo diễn viên, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống ở các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng truyền dạy, trao nghề cho thể hệ trẻ ở cộng đồng về nghệ thuật truyền thống.
4. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động biểu diễn và hoạt động bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Huy động tối đa các nguồn lực trong nước và ngoài nước với sự tham gia đóng góp của toàn xã hội.
*Đề án gồm 3 phần:
Phần Một: Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
- Bối cảnh chính trị, kinh tế-xã hội tác động đến bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
- Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
- Nguyên nhân
Phần Hai. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
Quan điểm chỉ đạo:
1. Nâng cao nhận thức trong cộng đồng.
2. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
3 . Đổi mới công tác đào tạo diễn viên, nghệ sỹ
4. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động biểu diễn bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Mục tiêu:
1. Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;
2. Tuyên truyền, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân về giá trị của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống;
3 . Đổi mời và nâng cao chất lượng đảo tạo và truyền dạy tài năng trẻ;
4. Tổ chức quy hoạch tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn truyền thống;
5. Đầu tư có trọng tâm trọng điểm vào các vở diễn có nhất lượng nghệ thuật.
Nhiệm vụ:
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc Việt Nam trong cộng đồng
2. Sưu tầm, lưu trữ các tác phẩm, các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của 54 dân tộc ở Việt Nam;
3 . Phát triển đội ngũ nghệ nhân nghệ sĩ biểu diễn nghệ thuật truyền thống;
4. Thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia về nghệ thuật biểu diễn truyền thống
5. Tăng cường đầu tư của Nhà nước với hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
6. Xây dựng một số nhà hát nghệ thuật truyền thống theo phương châm dân tộc và hiện đại.
7. Tăng cường đầu tư kinh phí trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2011-2015 và những năm kế tiếp cho hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
8. Khẩn trương phục hồi, có biện pháp tích cực bảo vệ một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống có nguy cơ thất truyền cao để lưu giữ, bảo tồn và quảng bá.
9. Thực hiện phục hồi, phục dựng lại một số tác phẩm nghệ thuật truyền thống tiêu biểu.
10. Tăng cường quảng bá, giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống trong và ngoài nước.
11. Xây dựng chương trình gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống và phát triển du lịch bền vững.
12. Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học về nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở trung ương và địa phương.
Phần Ba. Giải pháp và che dự án bảo fồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống
Giải pháp:
1. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong cộng đồng.
2. Xây dựng chính sách ưu tiên đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống và đội ngũ làm nghề trong lĩnh vực này.
3. Thực hiện chính sách ưu tiên đối với hoạt động đào tạo và truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
4. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ kế cận cho nghệ thuật biểu diễn truyền thống
5. Tăng cường gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống với phát triển du lịch bền vững
6. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật trình diễn truyền thống.
7. Phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp.
Các dự án thành phần:
Bảo tồn và phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Nhã nhạc Cung đình Huế; Ca trù; Hát xoan ở Phú Thọ; Đờn ca tài tử Nam Bộ; Bài chòi Trung Bộ
Xây dựng các văn bản pháp quy về tổ chức các hoạt động trình diễn truyền thống và các đơn vị nghệ thuật truyền thống. Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách để bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Phổ cập, nâng cao hiểu biết về nghệ thuật trình diễn truyền thống trong cộng đồng.
Xây dựng cơ sở vật chất cho các nhà hát biểu diễn nghệ thuật truyền thống ở Trung ương và địa phương.
Đổi mới hoạt động đào tạo và truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong nhà trường và cộng đồng.
Hỗ trợ các CLB, nhóm nghệ nhân không chuyên nghiệp ở các địa phương hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống.
Sưu tầm, tư liệu hóa, số hóa dân ca, dân vũ của các dân tộc ở Việt Nam.
Phục vụ, lưu trữ, số hóa tác phẩm, tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực nghệ thuật trình diễn truyền thống các dân tộc VN.
Quảng bá nghệ thuật trình diễn nghệ thuật truyền thống ở VN và nước ngoài.
Trao đổi, học tập kinh nghiệm bảo tồn, phát huy nghệ thuật trình diễn truyền thống của các nước trong khu vực và thế giới.
Những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể của Đề án
 
Những nhiệm vụ căn bản:
Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc Việt Nam, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch, góp phần để văn hóa xứng đáng là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội;
Tuyên truyền, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân về giá trị của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống; định hướng giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ trong nhà trường và ngoài cộng đồng để nâng cao hiểu biết của thế hệ trẻ về vẻ đẹp, giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống;
Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo và truyền dạy tài năng trẻ cho nghệ thuật biểu diễn truyền thông trong các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống của các nghệ nhân trong cộng đồng;
Thực hiện xã hội hoá nghệ thuật biểu diễn truyền thống nhằm huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội chăm lo đến hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống. Tổ chức và quy hoạch lại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở Trung ương và các địa phương, xây dựng các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập;
Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các vở diễn có chất lượng nghệ thuật cao để giới thiệu nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở trong nước và ngoài nước; tăng cường một bước cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống và hoạt động sưu tầm, nghiên cứu ở các vùng, miền.
Đề án hướng tới những nhiệm vụ bao gồm:
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc Việt Nam, nâng cao nhận thức, lòng tự hào về giá trị của các tác phẩm, loại hình, từ đó xác định trách nhiệm trong công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Sưu tầm, lưu trữ các tác phẩm, các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam bằng nhiều hình thức: văn bản, băng đĩa, công nghệ-kỹ thuật số... Tổ chức nghiên cứu, đánh giá, xác định những tinh hoa cần kế thừa, phát huy của nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Phát triển đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn; xây dựng các chính sách đối với nghệ nhân và nghệ sĩ, xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ, nhất là đội ngũ chuyên gia. Cải tiến và đổi mới công tác đào tạo và truyền dạy nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại các trường văn hóa nghệ thuật ở Trung ương và địa phương. Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật trong cả nước. Hỗ trợ các câu lạc bộ, nhóm, đơn vị nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong việc truyền nghề.
Thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia về nghệ thuật biểu diễn truyền thông giúp lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về các vân đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Tăng cường đầu tư của Nhà nước với hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống; sắp xếp lại, đổi mới hoạt động của các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp ở Trung ương và địa phương; hỗ trợ thành lập một số đơn vị nghệ thuật truyền thống tư nhân; xây dựng chính sách tài trợ cho hoạt động nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Xây dựng mới một số nhà hát nghệ thuật truyền thống theo phương châm dân tộc và hiện đại; đầu tư trang thiết bị cho các đơn vị nghệ thuật truyền thống ở Trung ương và địa phương.
Tăng cường đần tư kinh phí trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2011-2015 và những năm kế tiếp cho hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Khẩn trương phục hồi, có biện pháp tích cực bảo vệ một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống có nguy cơ thất truyền cao để lưu trữ, bảo tồn và quảng bá.
Thực hiện phục hồi, phục dựng những tác phẩm nghệ thuật truyền thống tiêu biểu, nhất là kịch hát truyền thống trên cơ sở thẩm định của Hội đồng tư vấn quốc gia về nghệ thuật biểu diễn truyền thống, để lưu trữ phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và quảng bá nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Tăng cường quảng bá, giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống ở trong nước và ngoài nước bằng nhiều hình thức: sách, băng đĩa, công nghệ-kỹ thuật số... và biểu diễn trên sân khấu; chú trọng việc nâng cao nhận thức trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ về ý nghĩa và giá trị nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Xây dựng chương trình gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống và phát triển du lịch bền vững. Nâng cao chất lượng quảng bá, giới thiệu, biểu diễn nghệ thuật truyền thống các dân tộc Việt Nam ở trong nước và ngoài nước trong hoạt động của ngành du lịch.
Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học về nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở Trung ương và địa phương. Có kế hoạch huy động, sử dụng các nhà khoa học Việt Nam định cư ở nước ngoài, các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc Việt Nam. Đổi mới công tác bảo tồn và lưu trữ nghệ thuật biểu diễn truyền thống; kết hợp bảo tồn tại cộng đồng và lưu trữ tại Ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể. Nâng cấp Ngân hàng dữ liệu di sản văn hoá phi vật thể 54 dân tộc Việt Nam tại Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam, chú trọng lưu trữ nghệ thuật kịch hát truyền thống, gồm tác phẩm và chân dung nghệ sĩ, nghệ nhân.
Những giải pháp chính:
Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong cộng đồng.
Xây dựng các chính sách ưu tiên đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống và đội ngũ làm nghề trong lĩnh vực này
Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với hoạt động đào tạo và truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ kế cận cho nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Tăng cường gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống với phát triển du lịch bền vững.
Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật trình diễn truyền thống.
Phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp.
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đề án
 
 Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các nhiệm vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện đề án theo nội dung đã được phê duyệt; Xây dựng, ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản theo quy định, tổ chức thực hiện Đề án trên phạm vi toàn quốc; Phối hợp với các Ban, Bộ, ngành, tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội thực hiện Đề án; Tuyên truyền về đường lối, cơ chế, chính sách mới của Đề án.
2. Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng, ban hành chế độ, chính sách cho nghệ nhân, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật truyền thống và các đơn vị biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ có liên quan xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các đơn vị nghệ thuật công lập.
4. Bộ Tài chính có trách nhiệm xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản về chính sách tài chính cần bổ sung liên quan đến thực hiện xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống, hỗ trợ thuế, chế độ, chính sách ưu đãi . . để thực hiện Đề án, đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện các nội dung trong Đề án.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan hữu quan thực hiện đưa nghệ thuật biểu diễn truyền thống vào chương trình giảng dạy của hệ thống giáo dục quốc dân, bổ sung ngành học và đổi mới phương thức đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp văn hóa nghệ thuật.
6. Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất, quy hoạch và xây dựng các công trình phục vụ nghệ thuật biểu diễn.
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường và ban hành theo thẩm quyền các văn bản liên quan đến chính sách hỗ trợ tiền thuê đất, quỹ đất xây dựng các nhà hát biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
8. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan truyền thông tuyên truyền, giới thiệu về nghệ thuật biểu diễn truyền thống; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc lựa chọn các hình thức và nội dung tuyên truyền, giới thiệu.
9. Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện các hoạt động có yếu tố nước ngoài.
10. Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn các tỉnh, khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số .
11. Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo các hội chuyên ngành: Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam. . . phối hợp thực hiện nội dung của Đề án khi được phê duyệt.
12. Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam có trách nhiệm tăng cường nội dung và thời lượng phát thanh, phát hình cho chương trình nghệ thuật biểu diễn truyền thống phục vụ đồng bào ở trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế.
13. Trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương chỉ đạo các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở, Ban, ngành liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án khi được phê duyệt.
Trong thời gian tới, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục tham khảo ý kiến của các Bộ, Ban, ngành, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như các cơ quan đơn vị để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện Đề án, sau đó sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác