Giấc mơ lụa

(Cinet) - Tôi vẫn thường băn khoăn, nếu một ngày nào đó, bỗng mất dấu tấm lụa Vân Vạn Phúc, cốm làng Vòng, gương sen Tây hồ, nét áo dài Trạch Xá... như đã từng mất dấu chiếc cổng làng xưa cũ, nước mắm Vạn Vân hay làn điệu quan họ cổ… thì liệu có lúc nào đó, những thế hệ sau sẽ băng qua được vết đứt gãy văn hóa của ngày hôm nay, để khôi phục lại những tinh hoa của cha ông ngàn đời hay không?

Vẻ đẹp lụa Vạn PhúcVẻ đẹp lụa Vạn Phúc

Tấm lụa trải trăm năm

Từ xa xưa người dân Hà Đông đã có câu: “Bảy làng La, ba làng Gỗ đều làm nghề dệt lụa”. Cho nên người ta gọi đây là quê lụa. Nằm cách trung tâm khoảng 10km, làng lụa Vạn Phúc được biết đến như một làng dệt lụa đẹp, tinh xảo và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Tương truyền bà Tổ làng Lụa Vạn phúc vốn là người Hàm Châu Trung Quốc theo chồng chinh chiến Bắc Nam rồi neo lại làng này. Nỗi nhớ quê hương da diết của bà trút hết vào nghề tầm tang canh cửi nơi dòng Nhuệ Giang êm đềm tha thiết. Từ đó nghề dệt lụa bắt đầu xuất hiện và được truyền nghề rộng rãi cho người dân nơi đây. Ngày nối ngày, đời trải đời và nghề dệt trở thành nghề truyền thống của làng nghề Vạn Phúc.

 

Giấc mơ lụa	 - ảnh 2

                            Cổng làng Vạn Phúc xưa

Lụa Vạn Phúc có đặc điểm riêng, không thể lẫn lộn với những loại lụa khác. Lụa mềm, mỏng, nhẹ, thoáng mát nhưng không rạn, nhăn, qua thời gian dài mà mầu không phai, hoa văn vẫn sắc nét, sợi lụa không bị xê dịch. Sự độc đáo của lụa Vạn Phúc còn ở chỗ rất khó có những tấm lụa hoàn toàn giống nhau, bởi mùa nắng tơ có độ vàng ánh rực rỡ sắc sảo, mùa mưa sắc vàng óng ánh dịu nhẹ, nên màu lụa có lúc trong, trầm, thanh đậm. Mùa đông nền lụa ấm áp. Mùa hè lụa mát mẻ. Mùa thu lụa nền nã thướt tha duyên dáng Cho nên ngay từ những năm 1930, lụa Vạn Phúc đã nổi tiếng là sản phẩm tinh xảo bac nhat Đông Dương.

Vạn Phúc đẹp không chỉ ở màu sắc mà còn ở âm thanh, âm thanh của những tiếng tằm ăn đêm lạo xạo, tiếng dìu dạt khoan thai của những vòng tròn đều đều theo nhịp quay sợi. Bao du khách đến đây không chỉ để thấy những đường tơ dệt nên gấm nên hoa mà còn để đắm mình vào tiếng khung dệt rộn rã. Ấy là thứ âm thanh mang hồn cốt của một làng nghề.

Thế nhưng, làng Vạn Phúc ngày nay đã khác xưa nhiều lắm. Nó giống như một cô gái quê đang cởi bỏ dần những bộ cánh làng mạc để hòa nhập vào chốn thị thành. Việc đưa thiết bị, công nghệ và máy móc vào thay thế canh cửi thủ công, từ việc sấy, tẩm, hấp, phơi lụa, điều đó đồng nghĩa với việc giảm sức hấp dẫn của lụa Vạn Phúc. Đó là chưa kể một số chủ cửa hàng không ngần ngại tuồn và trộn hàng giả lụa Trung Quốc như phi, bóng... làm ảnh hưởng tới uy tín làng lụa.

Liệu có gì khác giữa tấm lụa Vạn Phúc mang những đợt hoa văn ẩn hiện man mác hồn xưa cũ, với thứ lụa cũng 100% tơ tằm nhưng được dệt bằng công nghệ hiện đại? Đó chính là nét tài hoa, cái không giới hạn của sự tài khéo, cái mở ngỏ vô tận của sự sáng tạo, sự đa hướng trong tạo lập đỉnh cao của nghề nghiệp, tất cả, dưới bàn tay phù thủy của người nghệ nhân, sẽ tạo nên vẻ đẹp vĩnh hằng của những tấm lụa nghệ thuật – nghệ thuật của sự sáng tạo và đam mê đích thực.

 

Giấc mơ lụa	 - ảnh 3

          

Lụa và người con gái luôn là biểu tượng đẹp của làng Vạn Phúc

 

Vạn Phúc giờ không còn những câu chuyện như thực như mơ về người con gái làng lụa đẹp người đẹp nết đã hút hồn bao lãng khách, không còn nữa không gian quê lụa với những gam màu sống động của hoa văn thổ cẩm truyền thống, với tiếng thoi đưa lách cách vọng ra từ khung cửi, với vẻ mặn mòi của người con gái  đảm đang, hiền dịu… Câu chuyện đầy đam mê về hình ảnh những con người sinh ra và lớn lên theo tiếng thoi đưa lách cách, trên mảnh đất truyền thống rồi cũng nhạt dần theo thời gian. Và nếu cụ Nguyễn Bính trở lại, hẳn sẽ còn thương lắm tiếng kẽo kẹt bên khung cửi ấy: “Em là con gái bên khung cửi/ dệt lụa quanh năm với mẹ già/ Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/ Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”

Tìm lại màu cho lụa

Cho đến bây giờ, bài thơ hay nhất về lụa là do một người thơ mà ở thời điểm tác phẩm ra đời, có lẽ lụa chỉ còn là “một thời vang bóng”, một chút dư hương vương vấn trong ký ức: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” (thơ Nguyên Sa). Lụa Hà Đông hay tấm lụa Vân chỉ có duy nhất ở làng quê Vạn Phúc, từng làm nên biểu tượng văn hóa của tâm hồn Việt trải nghìn năm, vượt lên những cách chia của đạn bom và ngộ nhận... Bởi vậy mà, với những con người cất tiếng khóc chào đời bên khung cửi, bắt đầu làm quen với kén chỉ đường tơ từ thời đồng ấu, thì việc khôi phục nghề dệt lụa dường như đã trở thành một cái “nghiệp” quấn lấy họ ngay cả trong tâm tưởng.

Nghệ nhân Triệu Văn Mão, bảy năm trước, khi ông còn tráng kiện, bặt thiệp như một vị điền chủ trong tiểu thuyết của Lev Tolstoy, bàn chân ông đã đạp lên dốc đá cheo leo cao nguyên Đồng Văn mù sương, lặn lội giữa Sài Gòn náo nhiệt những năm chín mươi, bươn bả khắp vùng quê từng có nghề canh cửi để tìm một lối đi cho lụa.

Ông Mão bắt đầu nuôi hoài bão phục dựng lụa hàng Vân từ cuối những năm tám mươi thế kỷ trước. Trên những bộ go võng, go xà han rỉ gãy nát qua hai cuộc chiến tranh và những năm hậu chiến lầm lụi đói nghèo. Quá trình lấy lại mẫu vân, dựng lại khung cửi tương thích với quy trình dệt vân cũng chính là lúc ông đồng thời ứng dụng những sáng tạo riêng và kỹ thuật của ngày hôm nay. Để dệt được một tấm lụa đẹp, bóng, đòi hỏi người thợ phải rất tỉ mỉ ở khâu chọn tơ, sao cho hội tụ đủ 4 yếu tố: đều, trắng, bóng, dai. Kĩ thuật dệt là khâu quan trọng nhất. Người thợ phải “chân dận đòn, tay giật sợi” thật đều, mạnh mới không lo lỏng sợi hay sần sùi. Để tăng thêm sức bền của sợi, khi dệt phải làm hồ, sau khi dệt ra tấm lụa mọc phải đem lụa truội trắng rồi nhuộm màu, đánh thước. Dệt gấm là khâu khó nhất, công phu hơn tất cả các loại lụa. Xưa nay chỉ có ít nghệ nhân biết dệt gấm, và chỉ có thợ làng Vạn Phúc là nơi duy nhất biết dệt gấm, sản phẩm được dùng cung tiến vua và các cung phi.

 

Giấc mơ lụa	 - ảnh 4

                                                                Tấm lụa trải trăm năm

Dệt lụa truyền thống đều phải thao tác bằng tay. Kén  tằm được luộc kỹ và đánh thành các con tơ, mỗi con tơ nặng chừng 2-3 lạng,  phân theo ba loại, tuỳ vào chất lượng của các con tơ. Tơ đẹp phải là tơ  có sợi nhỏ đều , bóng và chắc, không bị xơ, soi lên dưới ánh mặt trời thấy sợi trong, không gợn vẩn. Sau khi tơ đã phân loại  kỹ lưỡng được guồng thành ống tơ. Thông thường người thợ dệt chọn đủ 100 ống tơ mắc vào trục để tạo thành một hàng dọc ( dài chừng 100 m) rồi đem trải rộng ngoài trời nắng và phết hồ tạo cho sợi có độ cứng, dễ dệt. Sau khi hồ đã khô đều, người thợ dệt mắc trục dọc vào khung dệt rồi luồn các sợi ngang

Bộ mẫu vân đầu tiên mà ông Mão phục dựng, với sự hỗ trợ của các cụ già ở làng, chính là bộ mẫu vân chữ triện được ông tự tay vẽ và thiết kế lại từ tấm áo dài thuở còn thanh xuân của một lão bà hiến tặng, năm nay cụ đã trên trăm tuổi. Câu chuyện ấy được lưu truyền như một huyền thoại của làng lụa, để người đời ngàn năm về sau, vẫn còn muốn tin vào câu chuyện, rằng đời Lê Mạt có ông đại thần đầu triều để ngỏ việc quan, treo mũ ô sa tìm về chốn ruộng vườn. Từ trái tim nồng nhiệt và tâm hồn nghệ sĩ của ông, những mẫu vân tinh túy nhất được vẽ nên và được tượng hình trên mặt vải bởi đôi bàn tay tuyệt khéo, và rằng ngày nay vẫn còn những con người như vậy, trốn vào cái vô biên của kỹ nghệ mà tạm quên nguôi những đau đớn ở đời.

Thi sỹ Hoàng Cầm, những ngày đau nhói vì quê hương trong tầm đạn giặc vẫn mượn màu lụa như một tín hiệu của sự yêu thương vỗ về có thực, như giao ước về một niềm tín nghĩa không suy suyển: “Ai về sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen”. Và đẹp nhất vẫn là câu ca khắc họa nên hình ảnh về một cô gái làng nghề Vạn Phúc: “Bóng chiếc thoi đưa, ánh mắt long lanh. Trời đất Hà Tây tay em dệt lụa”. Ánh mắt và bàn tay dịu dàng ấy đã làm nên huyền thoại về một làng nghề, và ngày nay, những cô gái làng lụa còn nhẹ nhàng đưa chân bước vào thế giới điện ảnh. Phim truyện áo lụa Hà Đông đã vẽ nên một biểu tượng thật duyên dáng của người con gái Việt Nam. Điều đó cho thấy sức sống tiềm ẩn và bền lâu của lụa Vạn Phúc, trải qua thử thách của thời gian và không gian, thứ lụa ấy vẫn bừng sáng một màu dân tộc.

...

Những nghệ nhân tâm huyết với nghề ở làng Vạn Phúc, có những người nay cũng sắp vào tuổi “cổ lai hy”, họ nghĩ nhiều về cái nghề nặng nợ áo cơm của làng, của họ. Cái nghề chẳng những đem lại cuộc sống sung túc no ấm, mà còn rèn giũa đức tính con người cần cù, chịu khó, hăng say lao động. Hưng vong là lẽ của một quốc gia, nhưng lụa, như tiếng thổn thức tự đáy hồn dân tộc, tôi tin là vẫn da diết níu gọi người ta sống đạo người đẹp hơn và ngay thẳng hơn.

T.D
(Ảnh minh họa. Nguồn Internet)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác